Hiện nay nhiều người hiểu đơn giản “Trà đạo Nhật Bản” là cách uống trà truyền thống của người Nhật. Tuy nhiên trên thực tế, trong trà đạo lại ẩn chứa rất nhiều triết lý uyên thâm về đời sống nhân sinh của con người.

Trà đạo lại ẩn chứa rất nhiều triết lý uyên thâm về đời sống nhân sinh của con người. (Ảnh: Internet)

Trà đạo có nguồn gốc từ đất nước Trung Hoa. Có thể nói, đây là quốc gia châu Á có nền văn minh lớn ảnh hưởng đến cả khu vực cũng như trên thế giới. Vào thế kỉ thứ VI, tri thức về các loại trà và sản xuất trà truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản cùng với mỹ thuật và Phật giáo.

Do được phổ biến theo chân các nhà sư nên trà đạo Nhật Bản mang đậm phong cách của Thiền. Có thể kể đến nhà sư Murata Juko, người đã tìm thấy vẻ đẹp giản dị trong văn hóa uống trà, ông coi trọng cuộc sống tinh thần và yêu cái đẹp “wabi” và “sabi” – vẻ đẹp giản dị, thanh sạch không vướng bụi trần, được xem là tinh thần chủ yếu trong việc thưởng trà.

Đối với uống trà thông thường, người thưởng thức trà có thể là người pha trà hoặc không. Người pha trà là chủ thể chính, người thưởng thức trà có thể là một hoặc nhiều người. Còn đối với nghi thức Trà đạo Nhật Bản, việc pha trà và uống trà là hai phần không thể tách rời. Người quan trọng nhất trong một nghi thức trà đạo là người thực hiện việc pha trà. Các thao tác của người pha trà thể hiện được cái tâm của họ. Người uống trà chỉ là chủ thể phụ của một nghi thức Trà đạo, hoà cùng chủ thể chính.

Đối với uống trà thông thường, người thưởng thức trà có thể là người pha trà hoặc không. (Ảnh: Internet)

Việc uống trà thông thường là nhằm thưởng thức trà ngon, ngắm cảnh và đàm đạo. Trong khi đó, đối với Trà đạo Nhật Bản, hương vị của trà không đóng vai trò chính. Chỉ có một loại trà duy nhất dùng cho nghi thức này là bột trà xanh matcha. Đây là loại trà có vị đắng, và ở dạng bột.


Đồng hồ Casio giá SHOCK!

Vị đắng của trà rất phù hợp với tôn chỉ tránh xa sự xa hoa của Thiền, sẽ hỗ trợ cho việc tập trung suy ngẫm của người thưởng trà. Cả người pha trà và người uống trà đều không quan tâm đến hương vị của trà, cái mà họ tập trung vào chính là các thao tác. Sự tĩnh lặng giúp cho họ tập trung vào chỉ vấn đề họ đang quan tâm, và các thao tác này sẽ giúp họ lý giải được nó.

Có câu: “Trà dư tửu hậu”. Văn hóa uống trà thông thường tập trung vào việc bàn luận và ngắm cảnh mà bỏ qua sự cầu kỳ trong cách thức và quá trình pha, việc uống trà cũng kéo dài theo câu chuyện giữa những người thưởng trà, quá trình pha trà của nghi thức Trà đạo Nhật Bản được thực hiện từ từ, kéo dài thời gian.

Việc pha trà được thực hiện với nhiều quy chuẩn, bao gồm: nước pha trà, làm ấm dụng cụ, pha trà, rót trà rồi uống trà. Trong khi đó việc uống trà thì thực hiện rất nhanh chóng, nhất là lần uống cuối cùng trong ba lần uống trà phải thật nhanh và kêu thật to. Việc này phản ánh sự tập trung cao độ của các chủ thể, không còn chú ý xung quanh nữa.

Trà đạo không chỉ đơn thuần là phép tắc uống trà, mà còn là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, từ đó tu tâm dưỡng tính.

Bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo bao gồm Hòa – Kính – Thanh – Tịch

Hòa có cội nguồn từ Khổng giáo, là đức của con người và cuộc đời. Hòa nghĩa là hòa thuận, hài hòa, hòa bình, hòa hợp, hòa đồng…, tuy nhiên quan niệm về hòa của trà đạo nhấn mạnh một số nét riêng.

Hòa đòi hỏi mọi người trong trà thất tự chuẩn bị cho mình một tâm thế hài hòa với khung cảnh, kiềm chế lòng vị kỷ và sự nóng giận, làm sao cho tư duy và hành xử của mình hòa hợp với mọi người.

Chữ hòa của trà đạo đề cao tính trang trọng và nét thanh bần vốn là tinh chất của cuộc đời bình dị, nhờ vậy tạo nên được khoảnh khắc tách biệt hẳn cuộc sống xô bồ hiện hữu bên ngoài.

Kính là lòng kính trọng, sự tôn kính của trà nhân với mọi sự vật và con người, là sự tri ân cuộc sống. Lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn.

Lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn.

Trong quan hệ xã hội, kính đòi hỏi con người trân trọng người khác, không nuôi ác ý, tà tâm đối với đồng loại, cố gắng vượt qua mọi toan tính ganh đua. Mỗi lần tiếp khách là mỗi lần chủ nhân phải tự coi như đây là cơ hội duy nhất trong đời có được vinh dự này.

Còn khách, khi đón nhận chén trà từ tay cung kính của chủ nhân, hãy xoay chiếc chén đúng một vòng trong đôi bàn tay khum lại của mình. Cử chỉ này không chỉ tỏ lòng kính trọng chủ nhân mà là tôn kính cả chiếc chén đang cầm.

Thanh là một nét đẹp rất đặc trưng trong lối sống của người Nhật, bắt nguồn từ ảnh hưởng của Thần đạo.

Trà thất trông thô sơ, thanh bần vậy mà cực kỳ sạch sẽ.

Trà thất trông thô sơ, thanh bần vậy mà cực kỳ sạch sẽ. Khi tiến hành lễ thức trà, tuyệt nhiên không thể tìm thấy ở đâu trong trà thất hay mọi vật dụng một hạt bụi. Hơn thế, còn phải đốt trầm thơm xông gian phòng cho thanh khiết trước khi rước khách vào.

Chữ thanh này còn mang hàm nghĩa người đời ai cũng phải trải qua thời khắc cuối cùng để đi vào một thế giới khác, muốn vào được chốn tinh khiết vĩnh hằng, thì con người phải đạt đến nội tâm thanh tịnh, gột sạch được bụi trần.

Tịch không chỉ là cảnh tịch mịch nơi trà thất. Khách cũng phải cùng tạo nên môi trường ấy. Không ai nói to trong trà thất. Không ai ngỏ lời khi một bạn đang thưởng thức chén trà. Mọi cử chỉ đều có sự cân nhắc.

Tịch của trà đạo không chỉ là sự thể hiện trong khoảnh khắc ngắn ngủi tại một nơi gặp gỡ tạm thời mà là ước muốn tạo nên một cuộc sống luôn yên tĩnh, thanh bình.

Tịch của trà đạo không chỉ là sự thể hiện trong khoảnh khắc ngắn ngủi tại một nơi gặp gỡ tạm thời mà là ước muốn tạo nên một cuộc sống luôn yên tĩnh, thanh bình. Nó thể hiện quan niệm Phật giáo về Niết bàn.

Đại trà sư Rikyiu nói rõ điểm này: “Lễ thức trà trước hết phải tiến hành cho đúng lời Phật dạy. Vui thích vì được sống trong dinh thự cao sang hay thường xuyên thưởng thức của ngon vật lạ, những chuyện ấy đều thuộc về cuộc sống trần tục.

Mọi nơi ở đều tốt, chỉ cần có được một tấm mái che nắng mưa, không bị gió thổi bay; mọi thức ăn đều là đủ nếu nó giúp con người không phải chết đói. Môn đồ trà đạo gom mấy khúc củi và đun sôi nước. Rồi dâng cúng Phật, sau đó mời bạn bè và mình là người thưởng thức sau cùng. Trước đó, hãy bày mấy cành hoa và đốt lên mấy mảnh trầm hương…”.

Như vậy, với mục đích tĩnh tâm, tu dưỡng tâm tính, người Nhật Bản đã hoà hợp con người mình với thiên nhiên thông qua việc thực hiện nghi thức Trà đạo. Nghi thức này có bản chất nghiêng về tinh thần, mang tính linh thiêng, thể hiện rõ hình ảnh và triết lý Thiền. Vì được hình thành dựa trên triết lý Thiền, nên thật ra nghi thức Trà đạo Nhật Bản nhằm thể hiện các triết lý Phật giáo Thiền tông.

Theo đó, để lý giải được những thắc mắc, con người phải hoà tâm trí mình vào tự nhiên – nói cách khác là để tiểu vũ trụ hoà vào đại vũ trụ – bằng cách tĩnh lặng tâm trí, không bị chi phối bởi bên ngoài.

Người dân Nhật Bản đã thực hiện triết lý trên thông qua nhiều phương cách khác nhau, trong đó có việc thực hiện nghi thức Trà đạo Nhật Bản. Vậy nên ý nghĩa đích thực của “Trà đạo” trong văn hoá Nhật Bản nên được hiểu là “hoà hợp con người với thiên nhiên qua thao tác pha và uống trà”.

Hồng Liên (t/h)